(HNM) - Sau 5 năm Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, đã có nhiều chính sách mới phát triển khoa học, công nghệ (KHCN); các chương trình nghiên cứu về tự động hóa, quy hoạch tỉnh thành, công nghệ sinh vật học, nghiên cứu khoa học tầng lớp và nhân bản... Góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, tầng lớp Thủ đô. Phóng viên BáoHànôịmớiđã thảo luận với Giám đốc Sở KHCN Hà Nội Lê Xuân Rao xung quanh câu chuyện này.
- 5 năm qua, ngành KHCN Thủ đô đã tham dự xử lý những phần việc gì mà theo ông là để lại dấu ấn rõ nhất?
- Tôi cho rằng, dấu ấn đáng kể là việc ban hành những chính sách mới để nâng cao chất lượng kết quả nghiên cứu và vận dụng kết quả đó trong đời sống kinh tế, tầng lớp. Việc có chính sách tốt sẽ gỡ bỏ nhiều rào cản về cơ chế đãi ngộ trí thức, cơ chế tài chính... Tồn tại từ lâu khiến ngành KHCN chậm phát triển. Gần đây nhất, tại kỳ họp thứ bảy, HĐND thành thị khóa XIV đã thông qua quyết nghị về việc xây dựng chính sách đối với tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển KHCN và các nhà KHCN tham gia thực hành chương trình KHCN trung tâm của Thủ đô, do Sở là cơ quan soạn thảo.
Trước đó, Sở đã tư vấn cho tỉnh thành ban hành nhiều giải pháp để tạo những bước phát triển đột phá cho hoạt động KHCN. Đó là việc hình thành 12 chương trình KHCN trọng điểm tuổi 2010-2015, thu hút 126 chuyên gia tham dự các ban chủ nhiệm chương trình KHCN cấp thành thị để thực hành chức năng phản biện, tham mưu danh mục, nhiệm vụ KHCN, tham dự quản lý đề tài, dự án và xây dựng kế hoạch KHCN hằng năm... Năm 2009, Sở KHCN đã tụ hợp rà, xây dựng, công bố 30 bộ thủ tục hành chính, trên cơ sở đó tập kết nghiên cứu cải tiến quy trình, hồ sơ, thủ tục quản lý nhằm bảo đảm yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Sở tham vấn với UBND thành phố ban hành Quy chế quản lý các chương trình, đề tài, dự án, đề án, phân công rõ nhiệm vụ của từng bộ phận khi quản lý các đề tài, dự án KHCN. Việc thực hiện quy trình quản lý mới đã nâng cao số lượng, chất lượng “đầu vào”, rút ngắn thời kì xây dựng kế hoạch và giám định thuyết minh từ 9 tháng xuống còn 4 tháng. Sở cũng thực hiện phân cấp nhiệm vụ đến từng chuyên viên để khi không hoàn thành nhiệm vụ có thể rà xem công việc đang “ách” ở đâu, để kịp thời có hướng xử lý.
 | | Thu hoạch nhãn chín muộn tại huyện Hoài Đức. Ảnh: Bá Hoạt |
- Với sự đổi thay về cơ cấu ngành nghề, điều kiện thiên nhiên, đặc biệt là hoạt động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, KHCN Hà Nội đã làm gì để ăn nhập tình hình mới này và kết quả ra sao?
- Trong 12 chương trình KHCN cấp đô thị, có 4 chương trình can dự đến các vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và dân cày (tam nông). Tuổi 2008-2013, các chương trình KHCN cấp tỉnh thành đã triển khai 540 đề tài, dự án nghiên cứu. Trong đó, các đề tài, dự án trực tiếp phục vụ phát triển tam nông là 89. Tỷ lệ áp dụng kết quả vào thực tiễn của các đề tài đạt khoảng 70%, đối với dự án là 100%.
Các đề tài lĩnh vực tam nông giao hội cốt tử vào hướng vận dụng công nghệ mới, sản phẩm mới, xây dựng mô hình quản lý mới góp phần nâng cao năng lực sinh sản, tạo ra sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, giá thành hợp lý. Từ các kết quả nghiên cứu khoa học, đã hình thành các quy trình công nghệ và xây dựng các giải pháp kỹ thuật mới, một số giống cây ăn quả đặc sản, giống lúa lai năng suất cao cho vùng ngoại ô; triển khai thực nghiệm mô hình đồng bộ: sinh sản rau an toàn; phòng dịch bệnh tổng hợp trong chăn nuôi bò thịt, bò sữa chất lượng, hiệu quả và an toàn dịch bệnh...
- Ông có thể nêu một số thí dụ về việc áp dụng thành công kết quả nghiên cứu trong phát triển tam nông?
- Sở KHCN đã thống kê, có hơn 60 kết quả đề tài, dự án đã được vận dụng thành công trong thực tế. Điển hình là các đề tài, dự án: Nghiên cứu một số giải pháp phát triển giống nhãn chín muộn HTM1 tại một số huyện ngoại ô Hà Nội, với mô hình 1ha tại xã An Thượng (Hoài Đức) đã cho năng suất đạt 239,7 tạ/ha, thu hoạch muộn so với nhãn chính vụ khoảng 25 ngày, cho thu nhập đạt 600 triệu đồng/ha (đối chứng không áp dụng các kỹ thuật thâm canh chỉ đạt 290 triệu đồng/ha); nghiên cứu kỹ thuật trồng hoa cát tường tại Hà Nội, thử nghiệm trồng quy mô 1.000m2 tại xã Tây Tựu (Từ Liêm) cho thu nhập từ 156 đến 215 triệu đồng trong vụ đông 2011. Cũng có thể kể đến dự án xây dựng mô hình vận dụng thuốc trừ sâu thảo mộc Anisaf SH-01 và một số sản phẩm sinh vật học trong sản xuất rau an toàn tại Hà Nội, vận dụng thí điểm tại phường Yên Nghĩa (Hà Đông) và xã Tiền Phong (Mê Linh) trên diện tích 2ha, cho hiệu quả kinh tế đạt 235 triệu đồng/ha, cao gấp 1,36 lần so với sinh sản rau đại trà... Tôi hy vọng, những kết quả nghiên cứu này sẽ sớm được nhân rộng trong sản xuất.
- Có nghịch lý là không ít sản phẩm nông nghiệp chất lượng tốt nhưng chỉ sau một thời gian ngắn đã bị các mặt hàng cùng loại có chất lượng thấp, không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm... Lấn át, làm giảm uy tín. Có cách nào để hạn chế tình trạng này, thưa ông?
- Từ năm 2010 đến nay, ngành KHCN Hà Nội đã tương trợ các quận, huyện đẩy mạnh việc xây dựng nhãn tập thể và hướng dẫn địa lý cho các sản phẩm truyền thống nhằm nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm. Đến nay, nhiều sản phẩm của các làng nghề đã được bảo hộ sở hữu trí tuệ như: Bưởi tôm vàng, nhãn chín muộn (Đan Phượng); rau hữu cơ (Sóc Sơn); bánh tẻ Phù Nhi, mây tre đan Phú Nghĩa (Chương Mỹ); khoai lang Đồng Thái (Ba Vì); đào Nhật Tân, quất Tứ Liên, chè sen Quảng An (Tây Hồ); nón Chuông (Thanh Oai); mây tre giang Vạn Phúc (Thanh Trì)... Việc chứng thực nhãn tập thể nêu trên góp phần giữ gìn, phát huy giá trị của các sản phẩm chất lượng cao trong nông nghiệp, đồng thời giúp người tiêu dùng chọn lọc được những mặt hàng xứng với đồng tiền bỏ ra.
- Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với đặc thù nhiều làng nghề thủ công nhất cả nước, Hà Nội đồng thời phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thời gian qua, vai trò của KHCN Thủ đô trong xử lý vấn đề này ra sao?
- Sở KHCN Hà Nội đã đặt hàng nghiên cứu thành công rất nhiều đề tài, dự án liên hệ đến xử lý khói bụi, nước thải, áp dụng phế thải làm nhiên liệu đốt khá thành công... Thí dụ, nghiên cứu, vận dụng nuôi tảo để sinh sản dầu diesel sinh vật học từ nước thải chăn nuôi; mô hình dùng rơm rạ để sản xuất than sinh vật học nhằm cải tạo đất bạc màu huyện Sóc Sơn; hoàn thiện công nghệ và thiết bị sinh sản gỗ xenlulo composite từ trấu; nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ và thiết kế, chế tạo máy ép để sản xuất viên và thanh đốt từ trấu...
Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề đang đặt ra gay gắt và là bài toán khó khi hồ hết việc sinh sản ở làng nghề theo quy mô hộ gia đình, công nghệ lạc hậu... Trong khi đó, đầu tư cho công nghệ xử lý môi trường khá tốn kém, không phải cơ sở sản xuất nào cũng có khả năng vận dụng, đòi hỏi quốc gia phải có cơ chế hỗ trợ mới mong nhân rộng được nhiều kết quả nghiên cứu vào đời sống.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét