(GD&TĐ) - Năm 1978, GS.TSKH Hồ Ngọc Đại sáng lập ra trọng tâm Công nghệ Giáo dục và Trường THCS Thực nghiệm Hà Nội là nơi vận dụng công nghệ giáo dục vào thực tiễn giảng dạy cho học trò Tiểu học.Tại Trường Thực nghiệm, nội dung, phương pháp và cách tổ chức GD từ lớp 1 được đổi mới. Hơn 30 năm qua, công nghệ giáo dục đã trải qua không ít thăng trầm. Đến nay, theo GS Hồ Ngọc Đại, công nghệ giáo dục được vận dụng ở trên 20 tỉnh, thành. Điểm sáng của công nghệ giáo dục là Tiếng Việt 1 - cuốn sách giáo khoa đang được đông đảo nhà trường trên cả nước dùng. Theo ý kiến "học sinh là nhân vật trọng tâm" (học trò là mục tiêu giáo dục được quy định trong Luật Giáo dục), tác giả luôn vì ích lợi của trẻ mỏ, vì hạnh phúc đi học của trẻ em. Quan điểm này phần nào đã đi vào nhiều trường tiểu học diễn tả ở khẩu hiệu dành cho trẻ em: "Mỗi ngày đến trường là một ngày vui". Ý kiến này cũng miêu tả ở cách dạy học hướng tới mục đích "trẻ mỏ nào cũng được học - học gì được nấy, học đến đâu chắc đến đấy". Cách dạy và học này được tác giả gọi là "Thầy thiết kế - Trò thi công". Công nghệ giáo dục có thể hiểu là quá trình giáo dục có các đặc điểm chính: 1. Chủ động tổ chức; 2. Chủ động kiểm soát cả quá trình và kết quả. Nhờ 2 đặc điểm này mà công nghệ giáo dục có thể chuyển giao theo bài bản khoa học. Công nghệ giáo dục có thể biểu thị bằng công thức A -> a (A gọi là a lớn, -> là mũi tên, a là a nhỏ), các thành tố của công thức này được hiểu như sau: A là nội dung giáo dục bao gồm 3 lĩnh vực: Khoa học, Nghệ thuật, Lối sống, được chọn lọc đưa vào nhà trường theo 3 nguyên tắc: Phát triển, Chuẩn mực, Tối thiểu. Theo nguyên tắc Phát triển thì chương trình các môn học bảo đảm được lôgic khoa học của mỗi môn học, mặt khác bảo đảm hợp với sự phát triển tâm sinh lý và tạo được sự phát triển của học sinh trong quá trình học tập. Theo nguyên tắc Chuẩn mực thì nội dung giáo dục đưa đến cho học trò phải đảm bảo tính chuẩn khoa học, Chuẩn mực đạo đức lối sống và tính nghệ thuật. Theo nguyên tắc Tối thiểu thì nội dung giáo dục đưa đến cho học trò hướng làm sao tinh giảm bảo đảm tính căn bản thiết yếu (ít mà tinh) (theo tác giả thì nguyên tắc này bảo đảm chất liệu thiết yếu và tối thiểu về nguyên liệu nên gọi là nguyên tắc "tối thiểu", nhờ vậy mà có được tính tối ưu hay cũng có thể gọi là nguyên tắc tối ưu). A là A được học trò lĩnh hội tồn tại trong tư cách các em. Đó là những giá trị mà mỗi học trò có được trong quá trình học tập, diễn tả ở phương pháp học tập, ở khả năng tư duy, ở kiến thức, kĩ năng và những nét tâm lí tích cực, đó chính là những yếu tố góp phần tạo nên năng lực và phẩm chất của học trò. -> Là quá trình chuyển từ A vào trong mỗi học trò thành a bằng phương pháp "Thầy tổ chức - Trò hoạt động" hay "Thầy thiết kế - Trò thi công". Theo cách dạy và học "Thầy thiết kế - Trò thi công" thì trong quá trình dạy và học, Thầy làm nhiệm vụ hướng dẫn và theo chỉ dẫn của Thầy, Trò nào cũng làm việc và qua làm việc mà các em có được sản phẩn cấp thiết, cái mà mình cần học (cách thức này cũng có thể hiểu là học đi đôi với hành, hành để học). Cách dạy và học này đảm bảo cho mỗi học sinh, chí ít đều lĩnh hội được nội dung học tập (cái trong A), tối thiểu đều đạt được yêu cầu, tức thị tối thiểu đều đạt được chuẩn tri thức và kỹ năng do Bộ quy định; song song có thêm những cái khác như sự phát triển tư duy, tính linh hoạt năng động trong ứng xử, sự quan hoài chia sẻ với bạn bè, tính tự tin. Qua thực tiễn ở các trường lớp có tổ chức dạy và học theo công nghệ giáo dục trong thập niên 90 của thế kỉ XX thì đa số học trò đều đạt kết quả cao hơn so với học trò các lớp đại trà ở cùng địa phương (theo đánh giá về kiến thức và kỹ năng), ngoài ra còn có được những phẩm chất như vừa nêu.
Theo phương pháp công nghệ giáo dục thì mỗi học trò chính là chủ thể tích cực của hoạt động học. Nhờ sự dẫn dắt, trợ giúp của đay đả mỗi em tự mình làm việc để có kết quả (tự mình làm ra sản phẩm học tập của mình), nhờ thế mà mỗi em lĩnh hội được nội dung học tập, tạo cho mình tri thức, kĩ năng, các phẩm chất và thái độ tương ứng, nói cách khác là hình thành dần cho mình năng lực và phẩm chất tư cách. Cách dạy và học theo công nghệ giáo dục chính là dạy và học hướng hình thành năng lực học sinh, được biểu thị rõ trong thực tại triển khai các môn học ở tiểu học tuổi trước và đặc biệt qua môn Tiếng Việt 1 trong những năm gần đây. Qua môn Tiếng Việt lớp 1 học sinh hình thành cho mình năng lực dùng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) và một số phẩm chất trong tư cách các em. Sử dụng tốt Tiếng Việt và phương pháp học tập tích cực, học trò có thể học tốt các môn học khác và tiếp tục phát triển trong quá trình học tập về sau. Công nghệ giáo dục ở Việt Nam có lịch sử hình thành gần 40 năm, so với phương pháp truyền thống đã có lịch sử trên 300 năm thì còn quá non trẻ nhưng đã được định hình và đang vào độ chín. Qua những bước thăng trầm và những khi gặp khó khăn công nghệ giáo dục vẫn luôn có được sự quan tâm sẻ chia từ những học trò cũ và mới, từ các bậc ba má, các bạn đồng nghiệp và các nhà quản lý. Nhờ vậy mà công nghệ giáo dục đã có được thành tựu có giá trị thực thụ đưa đến cho trẻ thơ. Môn Tiếng Việt lớp Một công nghệ giáo dục đang càng ngày càng có nhiều trẻ con 6 tuổi trên phạm vi cả nước được hưởng thụ là một thí dụ biểu hiện rõ thành quả nghiên cứu của GS Hồ Ngọc Đại và cộng sự. PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào ______________________ (Kỳ 2: Tiếng Việt 1 - Công nghệ giáo dục đi vào cuộc sống) |
Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013
Phương pháp “thầy thay đổi thiết kế - trò thi công”
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét