Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

“Giữ gìn sự nội dung trong sáng” hay triệt tiêu?

Nhưng trong bối cảnh từng lớp nước ta giờ, khi trình độ dân trí rõ ràng đã được nâng lên rất nhiều so với trước, và sự hội nhập với thế giới đang diễn ra hằng ngày, lại phát sinh một câu hỏi: giữ giàng sự tinh khiết của tiếng Việt như thế nào? Câu hỏi không hề là ngẫu nhiên, chỉ cần chúng ta nhìn thực tại đời sống của văn chương dịch thời kì gần đây sẽ thấy: của“sự thuần khiết của tiếng Việt”luôn được dẫn ra như một chuẩn để định giá chất lượng bản dịch tiếng Việt của những tác phẩm văn chương nước ngoài. Hơn thế, như một lời răn đe trước những bản dịch bị coi là luộm thuộm, lỉnh kỉnh, xa lạ, tối nghĩa về hành ngôn tiếng Việt. Quả đúng là đã có không ít bản dịch như vậy, và không gì khác hơn, chúng là sản phẩm tồi của những người dịch kém. Nhưng ngược lại, ngang trái thay, cũng có nhiều trường hợp bị kết án oan, và ở những trường hợp ấy, hạng“sự trong sáng của tiếng Việt”nhiều khi chỉ đơn giản là một thứ khí giới sẵn có, được người ta sử dụng cũng chính bởi sự sẵn có ấy, như một quán tính.

Bản dịch tiểu thuyếtLolitacủa Dương Tường là một ví dụ. Khỏi phải nói, dịchLolita, nghĩa là dịch giả hài lòng đối mặt với thách thức cực lớn. Bởi nhà văn Mỹ gốc Nga Vladimir Nabokov vốn khét tiếng thế giới như một phù thủy về tiếng nói. Tiểu thuyếtLolitacủa ông trùng điệp những ẩn dụ, những trò chơi ngôn từ, những cấu trúc câu, những liên văn bản và xuyên văn bản vô tận, cực kỳ… dị dạng! Tóm lại, theo nghĩa nào đó,Lolitalà một mê cung tiếng nói mà người viết bày ra với mục đích, không gì khác, để tạo sự mờ đục làm rối trí người đọc. (Thứ văn học làm rối trí người đọc cũng cấp thiết, chí ít, ở mức ngang bằng với thứ văn học khiến người đọc được thư giãn). Trước một tác phẩm như vậy – một tác phẩm đã được chúng khẩu đồng từ xếp vào hàng kinh điển của tiểu thuyết hiện đại – mà dịch ra tiếng Việt sao cho đơn giản, dễ hiểu, “trong sáng”, thì cũng chính là cách xuyên tạc tác giả hiệu quả nhất. Một dịch giả lão thực như Dương Tường không chọn cách này. Ông sát với phong cách tiếng nói của Nabokov. DịchLolita, đến chỗ nào văn bản trở thành đa nghĩa hoặc quá tối nghĩa với người đọc, Dương Tường dùng ghi chú. (Có tất thảy gần năm trăm chú giải trong bản dịchLolita,được dịch giả khảo cứu từ nhiều nguồn, một sự ráng và thận trọng hiếm thấy trong hoạt động dịch văn học ở ta bây giờ – không nên quên rằng trong bản dịchLolitatiếng Pháp của Eric Kahane, bản dịch được chính Nabokov đánh giá rất cao, thậm chí chẳng có lấy một ghi chú nào. Và bởi thế, câu văn dịch“trên dòng kẻ có những dấu chấm”cùng lắm chỉ là một điều gây tranh cãi nho nhỏ của Dương Tường, người chủ tâm không chịu diễn nôm hình ảnh mà tác giả sử dụng thành ý trực tiếp – dụng tâm này không đáng để cõi trần đổ xô vào đay đi nghiến lại như thể trời sắp sập). Nhưng những người đọc bị động thì không đủ hứng và lòng kiên nhẫn để đi theo một trò chơi tiếng nói quá rắc rối. Họ khó chịu, và đó là dịp quá tốt để mực“sự trong sáng của tiếng Việt”,luôn sẵn đấy, lại được dẫn ra như một lời răn đe.

Tỉ dụ này gợi nhớ đến cố dịch giả Cao Xuân Hạo. Sinh tiền, ông Cao Xuân Hạo từng phàn nàn về chuyện có tác phẩm nào đó của F. M. Dostoievsky (xin miễn cho người viết việc phải nêu tên) được dịch ra tiếng Việt bằng một văn phong vô cùng “tinh khiết”, mềm mại, uyển chuyển, dễ đọc, và đọc rất “dễ chịu”. Trong khi trong nguyên tác tiếng Nga thì đó là một cách hành văn với tiết tấu giật cục, gấp gáp, tác giả cố ý dùng kiểu ngôn từ tạo cảm giác âm u, nặng nề đến tức thở, nhiều chỗ lại là sự thống ngự của những lớp ngôn từ thô thiển. Tác phẩm gốc như thế và tác phẩm dịch như thế, thìdịchđích thị là diệt, và cái quan niệm cứng nhắc về“sự tinh khiết của tiếng Việt”chính là thứ vũ khí quá tốt để tiêu diệt phong cách của tài năng văn học Nga. (Dịch giả Cao Xuân Hạo, vốn liếng là người rất dị ứng với hệ tiêu chí “Tín, Đạt, Nhã” do dịch giả Trung Quốc Nghiêm Phục đưa ra, từng kêu lên đầy tức tối, rằng nếu như ở tác phẩm gốc, tác giả cố tình viết một cách thô lỗ, mà người ta lại cứ chăm chăm phải dịch ra tiếng Việt sao cho được Nhã, thì phải dịch cách gì đây để bảo đảm trung thành với nguyên tác?)

Từ hai ví dụ trên, ít nhất, có thể rút ra một điều: nên có quan niệm và ứng xử cởi mở hơn trước yêu cầu“phải gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt”.Ngôn ngữ không phải là một hệ thống nhất thành bất biến. Nó như một sinh thể, thường xuyên vận động, thêm vào và mất đi, liên tiếp được làm mới. Mà một trong những con đường làm mới tiếng nói hiệu quả nhất, chính là việc dịch văn chương. Lịch sử văn học dịch Việt Nam ngay từ đầu thế kỷ XX đã cho thấy: phê chuẩn sự xúc tiếp và chuyển hóa những tác phẩm văn chương thuộc các ngôn ngữ khác, tiếng Việt đã tiếp nhận vào mình nhiều lớp ngôn từ mới, nhiều cấu trúc câu văn mới, nhiều mô hình tư duy ngôn ngữ mới, và đã trở nên sung túc hơn từ đó. Hãy cứ mường tưởng: nếu trước năm 1945 mà không có những bản dịch các tiểu thuyết chương hồi của Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục (Tam quốc chí diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốc), không có những bản dịchAn Na Kha Lệ Ninh(Anna Karenina) của Vũ Ngọc Phan,Những kẻ khốn nạn(Những người khốn khổ) của Nguyễn Văn Vĩnh, và nhiều nhiều dịch phẩm văn chương khác nữa, tiếng Việt của chúng ta chưa chắc đã đạt tới sự đa dạng và thảnh thơi. Như bây giờ. Vì thế, nếu cứ nhất thiết“giữ gìn sự tinh khiết của tiếng Việt”với mặc định rằng đó là một di sản ngôn ngữ đông cứng, thì hậu quả sẽ không chỉ là sự triệt tiêu phẩm tính đặc dị trong phong cách nghệ thuật của các tác giả văn chương nước ngoài, mà còn là sự triệt tiêu khả năng phong phú hóa của bản thân tiếng Việt.

Với văn học dịch là thế. Còn với sáng tác văn chương trong nước thì sao? Có lẽ chỉ cần nói ngắn gọn: chúng ta không ủng hộ những sự làm xấu tiếng Việt, nhưng cũng không nên bám chặt vào một sự “trong sáng” mơ hồ nào đó của tiếng Việt để đóng sập cửa trước những cầm cải cách ngôn ngữ văn học. Xét cho cùng,“sự tinh khiết của tiếng Việt”không ngưng đọng vào chỉ độc nhất vô nhị một hình thái nào đó. Lối viết văn tiếng Việt với dày đặc những câu biền ngữ, đăng đối như trong các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh hay trongNho Phongcủa Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, là bộc lộ của một thứ tiếng Việt “tinh khiết”. Nhưng cũng “tinh khiết” không kém là câu văn tiếng Việt của chính Nhất Linh ở thời đoạn sau, trong các tiểu thuyết nhưĐoạn tuyệt, Đôi bạn, Bướm trắng…cho dù câu văn tiếng Việt ở đây đã rất khác với ởNho Phong. Hoặc giả, nếu cứ thuận theo quan điểm (không hề sai) của phần lớn bạn đọc, rằng các truyện ngắn và tùy bút của Thạch Lam là một mẫu mực về“sự trong sáng của tiếng Việt”,thì cũng không vì vậy mà bảo những câu văn tiếng Việt của Nguyễn Tuân – tiếng nói được gọt giũa rất cầu kỳ, sử dụng những phối hợp từ đầy bất thường và bất thần, những cú pháp bị vặn xoắn theo kiểu… chẳng giống ai – là không “thuần khiết”. Nó là thứ tiếng Việt “tinh khiết” theo cách khác. Tóm lại, nói khác đi, ở đây chúng ta buộc phải có một cái nhìn dân chủ hóa trước của“sự trong sáng của tiếng Việt”.Nó không giống như chân lý tối thượng của Chúa Trời, đơn nghĩa. Nó là một tụ hợp của những chân lý tương đối, luôn mở ra, mời gọi sự sáng tạo của ắt.

Không nên quên rằng trong lĩnh vực đặc thù như văn chương, tiếng nói đã không còn là ngôn ngữ tiêu dùng nữa, mà là tiếng nói của nghệ thuật. Phát xuất từ ngôn ngữ đời sống, nhưng nó đã được mã hóa. Và cho nên, nó mang đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của người sử dụng, không loại trừ cả sự đánh đố, khiêu khích, gây hấn bằng ngôn ngữ. Vấn đề còn lại là thái độ của người tiếp nhận. Nếu ta cứ đòi hỏi ngôn ngữ văn chương phải hiền từ, đơn nghĩa, dễ hiểu, “tinh khiết” theo cách của tiếng nói tiêu dùng, thì tốt nhất là chẳng cần có văn chương làm gì.

Không nên quên rằng lời kêu gọi“gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt”được nói ra trong bối cảnh một nước Việt Nam với trình độ dân trí nhìn chung rất thấp, tỷ lệ người mới thoát nạn mù chữ cao ngang với tỷ lệ người còn mù chữ. Để tuyên truyền, để vận động đối tượng này một cách hiệu quả nhất, không gì khác, cần phải dùng một thứ tiếng nói dễ hiểu nhất có thể.

Nhưng không nên quên rằng bối cảnh xã hội Việt Nam hiện tại đã rất khác. Tốt nghiệp đại học đã trở nên chuyện “thường ngày ở huyện”. Và không nên quên rằng tiếng Việt là một sinh ngữ. Nó cần liên tục sống. Và liên tiếp vận động.

Theo Bvhttdl.Gov.Vn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét