Biểu diễn đờn ca a ma tơ - loại hình biểu diễn đang làm hồ sơ trình UNESCO – tại hội thảo. Những kinh nghiệm từ thế giới Cuộc hội thảo “10 năm thực hành Công ước của UNESCO về bảo tàng văn hóa phi vật thể” – bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai” cuốn hàng chục nhà nghiên cứu, bảo tàng di sản tiếng tăm từ khắp nơi trên thế giới đến san sẻ kinh nghiệm và đưa ra những quan điểm giá trị về thực trạng của việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật biểu đạt nay. Gần gũi với Việt Nam, Myanmar là một nước đã có nhiều ráng trong việc bảo tàng văn hóa ưng chuẩn các cộng đồng liên can, mặc dầu nước này chưa ký và thông qua Công ước. Ông San Win, thuộc Bộ Văn hóa Myanmar chia sẻ những kinh nghiệm hết sức cụ thể của Myanmar, trong đó quan trọng nhất là giáo dục đời trẻ, gắn vai trò bảo tàng văn hóa với sợi dây kết nối giữa thế hệ cũ với thế hệ mới. Ông San Win cho biết, với mục tiêu bảo vệ và phổ biến di sản văn hóa Myanmar, những việc cần làm được đưa ra một cách rất cụ thể là: Nghiên cứu và bảo tàng di sản văn hóa, ví dụ như những ngôi chùa cổ, bia đá chạm khắc, những ấn phẩm gốc và những ấn phẩm trên giấy parabaik, những công trình kiến trúc cổ và các loại hình trang hoàng, duy trì, phổ biến và bình phục nền văn chương Myanmar, âm nhạc, biểu diễn sân khấu theo phong cách Myanmar, bảo tàng, duy trì và phát triển nghệ thuật Myanmar và nghề thủ công theo phong cách truyền thống, mặc trang phục Myanmar hạp với văn hóa truyền thống, giáo dục đời trẻ Myanmar biết cách cư xử, nói năng phù hợp với những lời khuyên, lời giảng trong đạo, của nghiêm phụ và cha mẹ… Trong đó, vai trò của Bộ Văn hóa Myanmar được đặt lên hàng đầu, với những nghĩa vụ chính đang được thực hành là bảo tàng di sản văn hóa Myanmar để phong cách và văn hóa Myanmar phổ quát rộng rãi, tạo ra các sản phẩm/công trình mỹ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ của quốc gia và công chúng, giúp các nghệ sĩ tạo ra những sản phẩm mỹ thuật không chỉ để tiêu khiển mà còn để nâng cao hiểu biết, giáo dục công chúng thấm nhuần những ý kiến phổ quát, phát triển tính kết đoàn, ý thức dân tộc và lòng yêu nước trong người dân, loại trừ những nét xấu trong nền văn hóa, phát triển ý thức dân tộc trong việc quảng bá văn hóa. Một thành viên ASEAN khác là Indonesia lại đưa ra những kinh nghiệm bảo tàng dựa trên cơ sở hợp tác với các nước khác, với tỉ dụ cụ thể là múa rối bóng, một loại hình nghệ thuật trình diễn phổ thông ở Indonesia và các nước ASEAN khác. Năm 2006, Indonesia bắt đầu đưa ra sáng kiến cộng tác ASEAN đối với bảo tàng múa rối (ở Indonesia, múa rối còn có tên gọi là wayang), duyệt y đàm đạo các nghệ sĩ múa rối trong mỗi một nước của 10 nước ASEAN. Liên hoan múa rối lần trước tiên của các nước ASEAN theo kế hoạch được tổ chức ở Gedung Pewayangan Kautaman ở Jakarta vào đầu tháng 12- 2006. Ngoại giả, nhiều nhà nghiên cứu khác từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Mexico, Nigeria, Thái-lan… cũng đưa ra những bài học kinh nghiệm của riêng mình, dựa trên những loại hình di sản văn hóa phi vật thể đặc trưng của mỗi nước. Bài học cho Việt Nam Trong 10 năm, Việt Nam cũng đã có những bài học kinh nghiệm cho riêng mình, và cũng có một số địa phương thực hiện thành công việc bảo tàng di sản văn hóa phi vật thể, giáo dục tốt cho đời trẻ và xây dựng được một đội ngũ “truyền nhân”” kế cận tuy chưa thể sánh với thế hệ trước, nhưng cũng đã là những tín hiệu tốt. PGS, TS Lê Thị Hồng Phương, Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam phân tách từ năm loại hình trình diễn của chúng ta đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, gồm hát xoan Phú Thọ, nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca quan họ Bắc Ninh và ca trù. Cụ thể, nhiều thay đổi rõ rệt trong hai tuổi trước và sau khi được công nhận đã cho thấy tác động của việc bảo tàng đúng hướng lên một số trong năm loại hình nghệ thuật biểu diễn kể trên. Tỉ dụ, Nhà hát nghệ thuật cung đình Huế trước đây chỉ có hai đoàn, trình diễn 1-2 suất/ngày, tuy nhiên giờ đã có ba đoàn thay nhau diễn liên tục 3-4 suất/ngày tại sàn diễn Duyệt Thị Đường. Hát xoan, cồng chiêng, quan họ và ca trù đều bắt đầu xuất hiện lớp nghệ nhân trẻ… GS, TS Trần Quang Hải (Trung tâm nghiên cứu Khoa học nhà nước Pháp) san sẻ những trằn trọc về việc quan hoài đến lớp nghệ nhân cao tuổi – một yếu tố quan yếu trong việc bảo tồn các loại hình văn hóa biểu diễn truyền thống: “Chúng ta phải nên nghĩ đến việc bảo vệ nghiêm chỉnh và cụ thể bằng cách tôn xứng đáng những nghệ nhân lớn tuổi là những người giữ giàng các bộ môn đó để họ có một đời sống thoải mái hầu tiếp tục truyền lại cho đời hậu sinh để duy trì nghệ thuật cựu truyền và đồng thời tăng cường việc kiểm soát các di sản đó theo đúng tôn chỉ của UNESCO”. Việc đưa di sản văn hóa phi vật thể trở nên một trong những đối tượng điều chỉnh của hệ thống pháp luật Việt Nam cũng góp phần khẳng định sự quan tâm của nhà nước. PGS, TS Đặng Văn Bài phân tách: “Điều này chứng tỏ, ý tưởng về di sản văn hóa phi vật thể và các tiêu chí do UNESCO xác định đã được hợp pháp hóa, đảm bảo cho việc bảo tàng loại hình di sản này có tính pháp lý kiên cố, có tính định chế bền vững mới tại Việt Nam”. Ông Bài cũng khẳng định: “Tiếp thu tinh thần của Công ước 2003 của UNESCO, Việt Nam đưa mô hình DSVHPVT thành một loại hình di sản mới và lồng ghép nó vào cơ cấu thiết chế của đất nước. Đó là sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nhận thức, cách tiếp cận mới, toàn diện hơn về di sản văn hóa”. TUYẾT LOAN |
Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013
Những kinh nghiệm quý cho bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét